Chấn thương Sọ Não (Craniocerebral Trauma)

Xin quý vị xử dụng mục này để đặt câu hỏi tới Bác Sĩ.
Câu trả lời sẽ được đăng ở đây.
Những câu hỏi đã được trả lời sẽ được dời vào phòng "Vấn Đáp Đã Qua" tùy theo loại bệnh cho dễ tìm

Các điều hành viên: thai, dcthuy, BS Nguyen Quyen Quoi, BS Nguyen Quyen Tai

BS Nguyen Quyen Tai
Site Admin
Bài viết: 1472
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 6 19, 2005 12:31 pm

Chấn thương Sọ Não (Craniocerebral Trauma)

Gửi bàigửi bởi BS Nguyen Quyen Tai » Thứ 4 Tháng 4 03, 2013 5:45 pm

Chấn thương Sọ Não

Não bộ (bộ óc) được xương sọ cứng rắn che chở. Tuy nhiên, khi sọ bị va chạm, dù nhẹ hay nặng, não bộ bị chấn động, khiến cho các chức năng của não bộ bị xáo trộn, từ những choáng váng trong vài giây hoặc bất tỉnh trong một thời gian ngắn hay dài, đến tình trạng hôn mê vĩnh viễn hay tử vong. Bài này giúp cho những người bị chấn động sọ não, hoặc có người thân bị chấn thương,
• biết nhận ra những triệu chứng và biểu hiệu có biến chứng do chấn động sọ não gây nên,
• biết khi nào cần đến bệnh viên để được khám nghiệm,
• biết khi nào cần chụp hình CT sọ não,
• hiểu được những phương pháp thường được sử dụng để ước lượng mức độ nặng nhẹ,
• các phương pháp theo dõi và điều trị,
• và những hậu quả của chấn thương.

Nguyên nhân: Chấn thương sọ não (ctsn) thường do những nguyên nhân sau đây gây nên:
• Té: té vì mất thăng bằng, vì trượt chân, hay té khi leo cây, leo thang, khi leo lên nóc nhà để sửa chữa, v.v.
• Tai nạn lưu thông: do té xe hay bị xe đụng.
• Tai nạn nghề nghiệp: do va chạm, té từ trên cao hay đồ nặng rơi trúng đầu.
• Tai nạn thể thao: những cuộc tỷ đấu thể thao tạo nhiều nguy cơ gây ctsn, đặc biệt là những cuộc đấu quyền Anh (boxing), đá bóng tròn, football, rugby, đấu võ, v.v.
• Bị đánh: trong những cuộc ấu đả, hay khi bị thù địch cố tình làm hại.
• Va chạm đầu: đụng đầu khi bước vào xe hơi, khi đi vào những nơi chật hẹp, sau khi khóm xuống ở dưới một cái quầy thấp và vô ý khi đứng lên, v.v.
• Bài này không viết về những ctsn do đạn hay những vậy nhọn xuyên sọ đâm vào não.

Mức độ Nặng Nhẹ:
Việc cần làm trước hết là ước lượng chấn thương nặng hay nhẹ. Một phương pháp giản dị được dùng ở khắp nơi trên thế giới là Bảng Định lượng Mức độ Hôn mê, thường được gọi là Glasgow Coma Scale (GCS). Phương pháp này dễ hiểu, dễ áp dụng, và ít gây sai lạc giữa những người sử dụng khác nhau. Bảng sau đây dùng cho người từ 4 tuổi trở lên. Phương pháp này ước lượng mức độ ý thức của người bị ctsn bằng cách khảo sát 3 chức năng: Mở mắt, Nói năng và Vận động, và chấm điểm cho mỗi chức năng rồi cộng lại cả ba.
A. Mở mắt: chấm điểm từ 1 đến 4.
1. Không mở mắt.
2. Mở mắt khi bị nhéo đau.
3. Mở mắt khi được gọi.
4. Tự động mở mắt.
B. Nói năng: chấm điểm từ 1 đến 5.
1. Không nói năng gì cả
2. Nói gì không hiểu được
3. Nói năng không thích nghi (inappropriate)
4. Nói năng lẫn lộn (confused)
5. Có thể cho biết mình đang ở đâu, vào ngày nào, người đối thoại là ai (oriented)
C. Vận động: chấm điểm từ 1 đến 6.
1. Không cử động gì cả.
2. Chân tay duổi thẳng ra.
3. Cánh tay co rút lại.
4. Rút chân tay lại khi bị nhéo đau.
5. Định được vị trí đau ở nơi nào.
6. Cử động theo lời chỉ bảo.

Số điểm cao nhất (tốt nhất) cho GCS là 15 và thấp nhất (xấu nhất) là 3. GCS 15 là tình trạng ý thức bình thường, và GCS dưới hoặc bằng 8 là tình trạng hôn mê. Dựa vào điểm GCS, ctsn được phân loại là:
A. Nhẹ: khi GCS = 14 hay 15
B. Không nặng lắm: khi GCS = 9 đến 13
C. Nặng: khi GCS = 8 hay dưới 8

Theo dõi bệnh trạng:
1. Theo dõi các chức năng thần kinh: sau lần khám đầu tiên, ngoài việc tiếp tục theo dõi bằng GCS để ước lượng mức độ ý thức của bệnh nhân về 3 phương diện:
a. Mở mắt
b. Vận động
c. Nói năng
bác sĩ cũng sẽ tiếp tục khám lại những chức năng thần kinh để nhận ra những biến chứng có thể xảy ra.
2. Đo Áp Suất trong sọ: Những ctsn nặng thường làm cho não sưng phù, và vì vậy, áp suất trong sọ tăng lên. Khi áp suất trong sọ tăng thì lượng máu đến nuôi dưỡng não bộ giảm xuống, khiến cho não không thể nhận đủ lượng máu và do đó, não càng bị tổn thương thêm và chứng sưng phù não càng gia tăng. Để đo áp suất trong sọ hầu biết khi nào áp suất tăng lên và cần điều trị, và cũng để theo dõi hiệu quả của việc điều trị, các bác sĩ có thể dùng một trong hai phương pháp sau:
a. bằng cách gắn một bù-lon vào sọ: phẫu thuật như sau: rạch một đường nhỏ ở da, soi một lỗ nhỏ ở sọ và bắt một cái bù-lon nhỏ vào xương sọ. Bù-lon này thông thương với dịch não tủy bao chung quanh vỏ nảo và bác sĩ có thể đo áp xuất trong sọ qua dịch não tủy. Bù-lon này cũng có thể dùng để đặt một cọng dây nhỏ có gắn dụng cụ đo áp suất vào trong vỏ não.
b. bằng cách đút ống vào não thất: bác sĩ cũng có thể đặt một ống nhỏ vào trong não thất (xuyên qua một lỗ nhỏ khoét trong sọ), và nhờ đó, đo áp xuất trong não thất, và cũng do ống này, bác sĩ có thể để cho dịch não tủy trong não thất thoát ra ngoài để giảm bớt áp suất trong sọ, trong trường hợp áp suất lên cao.


Bảng chỉ dẫn để theo dõi người bị ctsn: Trong trường hợp có người thân bị ctsn,người nhà cần theo dõi những điều sau đây và đưa người bệnh đến bệnh viên:
• Không còn tỉnh táo
• Có hành vi bất thường
• Chứng nhức đầu gia tăng
• Nói năng không rõ
• Yếu hay mất cảm giác (tê) ở tay hay chân
• Ói mửa không ngừng
• Một hay cả hai đồng tử nở to
• Bị động kinh
• Da nơi bị chấn thương sưng to lên
Người bị ctsn không nên dùng những thuốc gây buồn ngủ và không nên dùng thuốc giảm đau gì khác ngoài acetaminophen (paracetamol, Tylenol), và không nên dùng aspirin và những thuốc chống viêm không có steroid (vì những thuốc này có thể làm cho những nơi bị tổn thương dễ chảy máu.


Tiêu chuẩn cho phép theo dõi ở nhà:

Trong những trường hợp ctsn nhẹ, sau khi làm những xét nghiệm đầy đủ, bác sĩ có thể cho người bị thương về nhà khi hội đủ những tiêu chuẩn sau đây:
1. Kết quả hình CT sọ não bình thường;
2. GCS trên 14;
3. Không bị xáo trộn thần kinh;
4. Bệnh nhân có thân nhân đáng tin cậy trông chừng;
5. Có phương tiện đưa bệnh nhân trở lại bệnh viện ngay nếu cần;
6. Không có điều gì khiến bác sĩ nghi ngờ là người bị ctsn là vì bị đánh đập ở nhà.
Nếu không hội đủ những điều kiện kể trên thì bệnh nhân được nhập viện để bác sĩ theo dõi.


Chẩn đoán: Người bị ctsn cần được khám nghiệm từ đầu đến chân, vì nguyên nhân ctsn cũng có thể gây chấn thương đến các bộ phận khác của cơ thể:
1. Khám tổng quát: bác sĩ khám trực tiếp để biết bệnh nhân bị những tổn thương nào ngoài ctsn, và nếu cần sẽ cho làm thêm những xét nghiệm cần thiết như chụp hình Tia X, chụp hình CT hoặc chụp hình mạch máu.
2. Khám hệ thần kinh: Ngoài việc khám tổng quát, bác sĩ đặc biệt khám hệ thần kinh để biết những chức năng gì bị xáo trộn. Bác sĩ và các y tá sẽ làm lại nhiều lần các xét nghiệm thần kinh hầu định lượng mức độ nặng nhẹ của ctsn và biết được tình trạng biến chuyển như thế nào từ khi mới bị chấn thương.
3. Chụp hình CT sọ não: đây là xét nghiệm thường dùng nhất để biết não bộ bị tổn thương hay không và tổn thương nặng nhẹ như thế nào. Bác sĩ thường chỉ định chụp hình CT sọ não trong những trường hợp sau đây:
• GCS bằng hay dưới 14;
• Không tỉnh dậy mặc dù bị lây động mạnh;
• Bị xáo trộn thần kinh, như yếu tay chân hay mất cảm giác;
• Không nhớ những gì đã xảy ra khi bị chấn thương;
• Không tỉnh táo (kể cả tình trạng say rượu);
• Kém tỉnh táo hơn lúc trước đó;
• Có biểu hiệu nứt vòm sọ hay đáy sọ.

Những Tổn thương có thể do ctsn gây n
ên:
1. Da
a. Bầm da đầu: da đầu có thể sưng lên khi bị bầm dập, nổi thành u.
b. Rách da đầu: da đầu có thể bị rách, đường rách có thể nông hay sâu, dài hay ngắn, thẳng hay quằn quèo. Chổ rách sâu có thể để lộ ra xương sọ.
c. Chảy máu dưới da đầu: mạch máu (ở dưới lớp da bầm dập) có thể vỡ và máu chảy ra dưới da đầu, đóng thành cục to hay nhỏ tùy lượng máu chày.
2. Xương Sọ: xương sọ có thể bị nứt hay bị lõm vào.
a. Nứt sọ: xương sọ có thể bị nứt ở vòm sọ hay ở đáy sọ, hay ở cả hai phần, vòm và đáy.
• Nứt vòm sọ:
- Nứt đỉnh sọ: đường nứt ở vòm sọ nếu đi ngang qua một tĩnh mạch lớn (sinus) ở màng cứng có thể gây chảy máu, và trong trường hợp này, tình trạng của thương nhân cần được theo dõi kĩ.
- Nứt xương màng tang: nứt xương sọ ở vùng màng tang cũng có nguy cơ làm rách động mạch màng não và gây chảy máu ở bên ngoài màng cứng, tạo nên cục máu đè lên trên não, khiến bệnh trạng biến chuyển nhanh chóng.
-Nứt xương ở hố sau: nứt xương sọ ở hố sau cũng tạo nguy cơ gây chảy máu ở tĩnh mạch màng cứng, khiến cho tiểu não và trục não bị chèn ép, làm cho bệnh nhân bị hôn mê nhanh chóng.
• Nứt đáy sọ: nứt xương ở đáy sọ tạo nên một số nguy cơ biến chứng nặng, đặc biệt là làm rách màng cứng, khiến cho nước não tủy rỉ xuống hốc và xoang mũi, tạo thêm nguy cơ nhiễm trùng màng não rất nguy hiểm.
-Nứt phần trước đáy sọ: nứt xương ở phần trước đáy sọ có thể làm tổn thương đến dây thần kinh khứu giác. Đây là biến chứng thường xạy ra do ctsn, người bị tổn thương dây thần kinh khứu giác mất đi khứu giác (không ngửi biết được mùi).
-Nứt phần giữa đáy sọ: nứt xương ở phần giữa đáy sọ có thể gây
-tổn thương đến tai, làm mất thính giác và gây nên chứng ù tai và chóng mặt.
-tổn thương đến dây thần kinh sọ số 8, cũng có thể làm mất thính giác, ù tai và chóng mặt,
-tổn thương đến dây thần kinh số 7, khiến cho mặt bị méo, mắt không thể nhắm lại được.
-rách màng cứng, khiến cho dịch não tủy rỉ ra từ lỗ tai.
-Nứt phần sau đáy sọ:
b. Lõm sọ: xương sọ có thể vỡ bể và bị đầy vào trong, khiến cho màng cứng bị rách, não bị bầm dập và chảy máu. Nếu da đầu bị rách ở nơi sọ bị lõm, điều này tạo thêm nguy cơ nhiễm trùng ở vết thương.
3. Chảy máu trong sọ: máu có thể chảy và tạo thành cục máu ở bất cứ nơi nào có mạch máu bị rách.
1. Chảy máu ngoài màng cứng: đa số các trường hợp chảy máu ngoài màng cứng xảy ra khi động mạch màng não bị rách ở vùng màng tang, máu tụ lại và đè lên não.
-Chảy máu nhanh: khi động mạch bị vỡ, máu chảy ra nhanh và cục máu tăng trưởng nhanh, khiến những xáo trộn thần kinh biến chuyển rất nhanh.
-Chảy máu chậm: cũng có những trường hợp máu chảy ra chậm, nên bệnh nhân vẫn tỉnh táo sau khi bị chấn thương (hoặc bị bất tỉnh ngay sau khi bị chấn thương, sau đó tỉnh lại), nhưng sau vài tiếng đồng hồ, chứng nhức đầu gia tăng dữ dội, thương nhân mất tỉnh táo và dần dần đi đến hôn mê. “Khoảng cách tỉnh táo” này dễ khiến cho người nhà thương nhân tưởng nhầm là chấn thương không nặng.
a. Chảy máu dưới màng cứng: những tĩnh mạch đi từ màng cứng đến vỏ não, hoặc những mạch máu ở vỏ não bị tổn thương và gây chảy máu dưới màng cứng. Tùy theo tổn thương mạch máu nhiều hay ít, máu có thể tụ lại nhanh hay chậm, khiến cho tình trạng tri giác của bệnh nhân biến chuyển nhanh hay chậm. Trong những trường hợp tĩnh mạch không bị tổn thương nặng, máu không chảy ra nhiều và ngưng chảy.
b. Chảy máu dưới mành nhện: máu chảy dưới màng nhện là do vỏ não bị bầm dập. Trong những trường hợp này, máu thường không chảy nhiều nhưng có thể gây chứng nhức đầu dai dẳng vì màng não bị kích thích.
c. Chảy máu trong não bộ: trong những ctsn, não bộ chảy máu ở vùng vỏ nảo bị bầm dập, thường là ở vỏ não.
d. Chảy máu trong não thất: não thất là nơi bài tiết dịch não tủy. Trong những trường hợp tổn thương nặng, máu có thẻ chảy vào trong não thất và đóng cục trong não thất.
4. Bầm não: Tùy theo nguyên nhân gây chấn thương, não bộ có thể bị bầm dập từng nơi, hoặc bị hư tổn khắp nơi. Chức năng thần kinh khác nhau tùy vùng não bị hư.
A. Tổn thương từng nơi: Khi não bị tổn thương từng nơi, hình CT não bộ cho thấy vùng nào bị bầm dập.
B. Tổn thương lan toả: Trong loại tổn thương lan toả, hình CT có thể không cho thấy những tổn thương li ti, nhưng những xáo trộn thần kinh có thể trầm trọng, kéo dài lâu hoặc vĩnh viễn.
5. Tổn thương những Dây Thần Kinh sọ: một hai nhiều dây thần kinh có thể bị tổn thương trong ctsn. Trong một số trường hợp, chỉ có dây thần kinh bị tổn thương, trong khi não bộ không bị ảnh hưởng gì quan trọng.
a. Dây thần kinh Khứu giác: Đây là dây thần kinh thường bị tổn thương nhất trong ctsn, khiến cho thương nhân mất khứu giác. Lúc vừa bị chấn thương, khi trình trạng bệnh nhân chưa quân bình và bệnh nhân còn chưa tỉnh táo, việc mất khứu giác thường không được phát hiện ngay.
b. Dây thần kinh di động mắt (dây thần kinh số 3, 4 và 6): Những tổn thương dây này khiến cho mắt bị lé và người bị chấn thương trông một thành hai. Tổn thương dây thần kinh số 3 có thể khiến cho đồng tử không còn phản xạ với ánh sáng.
c. Dây thần kinh Thị giác: Tổn thương dây thần kinh Thị giác thường do gẩy xương ở hốc mắt. Những tổn thương này khó điều trị và thương nhân có thể bị mù vĩnh viễn ở bên bị tổn thương.
d. Dây thần kinh Mặt: Tổn thương dây thần kinh số 7 thường do gẩy xương ở phần giữa đáy sọ và làm cho mặt bị méo ở một bên, và bệnh nhân không nhắm mắt lại được ở cùng bên.
e. Dây thần kinh Thính giác: Tổn thương ở vùng tai có thể gây tổn thương cho dây thần kinh số 8, và khiến cho thương nhân bị mất thính giác, bị ù tai và mất thăng bằng.
f. Những dây thần kinh sọ khác: Tôn thương những dây thần kinh sọ số 5, 9, 10, 11 và 12 cũng có thể xảy ra trong ctsn nhưng hiếm thấy hơn.
6. Rỉ dịch não tủy: do nứt xương đáy sọ và rách màng cứng. Dịch não tủy có thể rỉ ra từ lỗ tai hoặc từ lỗ mũi. Trong da số các trường hợp, dịch tự ngưng rĩ khi vết tổn thương lành lặn. Tuy nhiên, trong thời gian vết thương còn hở, vi trùng ở hốc mũi hay tai có thể xâm nhập vào dịch não tủy và gây nhiễm trùng màng não, rất nguy hiểm.
7. Nhiễm trùng màng não: do nứt xương đáy sọ (như vừa kể trên) hoặc do tổn thương sâu ở da đầu, xương sọ bị bể, màng cứng bị rách.
8. Xáo trộn thần kinh:
a. Hôn mê: Người bị ctsn có thể bất tỉnh ngay và sau một thời gian ngắn hay dài -tùy trường hợp chấn thương nặng hay nhẹ- từ vài dây đến vài ngày và người bị thương có thể tỉnh dậy. Trong những trường hợp chấn thương nặng, tình trạng hôn mê có thể kéo dài vĩnh viễn.
b. Yếu tay chân: Khi não bộ bị bầm dập ở một bán cầu, hay bị chèn ép bởi một cục máu, thương nhân có thể bị yếu tay chân ở một bên người, thường ở phiá bên đối diện với bán cầu bị thương tổn.
c. Nói không được: Nếu phần não liên quan đến việc phát âm bị tổn thương, người bị thương không nói được, mặc dù tỉnh táo, biết mình muốn nói gì và có ý muốn nói.
d. Nghe không hiểu: Nếu vùng liên quan đến việc nghe hiểu tiếng nói (thường là bán cầu trái) bị tổn thương, thương nhân có thể nghe nhưng không hiểu tiếng nói, mặc dù vẫn còn có thể phát biểu được ý tưởng của mình.
e. Kém trí nhớ: Các ctsn thường làm giảm trí nhớ, trí suy xét, tính toán. Những xáo trộn này có thể nhẹ hay nặng, có thể phục hồi lại sau một thời gian ngắn hay dài, và cũng có thể kéo dài vĩnh viễn, tùy mức độ chấn thương nặng hay nhẹ.
f. Thay đổi tâm tánh: Trong một số trường hợp ctsn, tâm tánh người bị thương có thể thay đổi, như hay cau có, dễ tức giận, không kềm chế được hành vi khi nóng giận, hoặc không còn tề chỉnh, làm việc cẩu thả, không để ý đến vệ sinh hay lối ăn mặc và lời nói.
g. Kém khéo léo tay chân: Chấn thương đến tiểu não có thể khiến cho tay chân vụng về, thiếu khéo léo, hoặc run rẩy khi làm một động tác cần chính xác.
h. Đi đứng không vững: Chấn thương đến tiểu não cũng có thể khiến đi đứng không vững và đi lệch về một bên.
i. Động kinh: Chứng động kinh xảy ra sau khi bị ctsn được phân làm hai loại:
a. Loại xảy ra sớm: trong vòng 7 ngày sau khi bị chấn thương.
b. Loại xảy ra trể: trên 7 ngày sau khi bị chấn thương.
Dùng thuốc phenytoin trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi bị chấn thương có thể ngăn ngừa được chứng Động kinh xảy trong vòng 7 ngày đầu, nhưng thuốc không phòng ngừa được chứng động kinh xảy ra trong thời gian sau đó. Vì vậy, thuốc phenytoin chỉ được sử dụng trong 7 ngày đầu sau khi bị chấn thương. Sau đó, nếu chứng động kinh xảy ra thì sẽ cần được điều trị.
j. Nhức đầu, chóng mặt: Ngường bị ctsn có thể bị nhức đầu và chóng mặt trong một thời gian. Thời gian này dài hay ngắn không tùy thuộc vào mức độ nặng hay nhẹ của chấn thường, vì có thể có nhiều yếu tố khác nhau gây cho những triệu chứng này kéo dài, trong đó có yếu tố tâm lí và ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình và nghề nghiệp.

Nhửng chấn thương có thể xảy ra cùng lúc với ctsn: Người bị ctsn có thể còn bị thêm những chấn thương sau đây:
1. Chấn thương Cột Sống: đặc biệt chấn thương cột sống cổ, vì cột sống bị cong vẹo quá độ khi đầu bị đẩy khỏi vị thế bình thường.
2. Chấn thương Tủy Sống: Khi cột sống bị tổn thương thì tủy sống cũng có thể bị tổn thương theo vì bị xương đốt sống hay đĩa sụng chèn ép, hoặc tủy sống bị kéo giãn ra quá độ khi cột sống bị cong vẹo ra khỏi mức bình thường.
3. Chấn thương Mạch Máu: các mạch máu ở đầu, cổ, ngực, bụng và tứ chi đều có thể bị chấn thương cùng với ctsn, khiến cho thương nhân mất máu nhanh chóng, hoặc gây cho những cơ quan cạnh nơi bị chảy máu bị chèn ép.
4. Chấn thương Nội Tạng (ở ngực, ở bụng): các cơ quan ở ngực như phổi, tim, và ở bụng (đặc biệt là gan, lá lách và ruột) cũng có thể bị chấn thương, gây nên xuất huyết trầm trọng.
5. Chấn thương Xương (xương sườn, xương chậu, xương tứ chi): Gẩy xương sườn có thể làm thủng phổi, gây g⬬¬¬¬y biến chứng tràn khí màng phổi. Gẩy xương chậu và xương tứ chi, đặc biệt là xương đùi, có thể gây xuất huyết trầm trọng.
6. Chấn thương Tứ Chi: Ngoài tổn thương ở xương, bắp thịt ở tứ chi có thể bị bầm dập, bị chảy máu và sưng phù, khiến cho máu không thể lưu thông bình thường. Biến chứng này cần được nhận thấy và chữa trị cấp thời (bằng cách rọc lớp gân bao bọc bắp thịt) để tránh cho cánh tay hay chân không bị hư thối.

Điều trị: tùy mức độ ctsn nhẹ hay nặng.
A. Nhẹ: Những ctsn nhẹ chỉ cần được theo dõi trong một thời gian ngắn ở nhà, hoặc ở bệnh viện khi có gì bất thường tìm thấy trong hình CT sọ não. Những triệu chứng như nhức đầu có thể điều trị bằng thuốc giảm đau như .
B. Nặng: Những trường hợp nặng cần được nhập viện và điều trị tùy theo tổn thương. Trong những trường hợp thương nhân bị hôn mê và hình CT cho thấy có những tổn thương có nguy cơ gây tăng áp suất trong sọ, bác sĩ thường làm những phẫu thuật kể ở phần trên để đo và theo dõi áp suất. Ngoài ra, tùy trường hợp, bác sĩ cần làm những phẫu thuật sau đây:

1. Khâu tổn thương da đầu: những tổn thương da dầu cần được rữa sạch và khâu lại, và bác sĩ cho dùng thuốc kháng sinh để tránh nhiễm trùng. Trong trường hợp mảnh da đầu bị tróc đi ở một khoảnh lớn, vết thương cần được ghép da.
2. Nâng xương sọ bị lõm: xương sọ bị lõm cần được nâng lên để vỏ não không còn bị chèn ép.
3. Giải phẫu sọ não: những trường hợp chảy máu trong sọ cần đến phẫu thuật để:
• cầm máu;
• lấy ra cục máu trong sọ hay trong não;
• khâu vá những tổn thương màng cứng;
• hút bỏ những phần não bị hư tổn hoàn toàn;
• đặt ống thoát dịch não tủy và dụng cụ đo áp suất trong sọ.

4. Kiểm soát Áp suất trong sọ: Trong những trường hợp áp suất trong sọ gia tăng vì não bị sưng phù, bác sĩ có thể dùng một hay hổn hợp những biện pháp sau đây để làm giảm áp suất:
a. Đặt đầu cao: việc đầu tiên và giản dị nhất để giảm áp suất trong sọ là để bệnh nhân nằm ở vị thế đầu cao hơn ngực, với đầu giường ở góc độ khoảng 300 đối với chân giường (sau khi đã kiểm soát là cột sống không bị tổn thương gì có thể gây cho cột sống bị vẹo cong thêm). Vị thế này giúp cho máu tĩnh mạch trong sọ trở xuống tim dễ dàng và giúp dịch não tủy trong sọ lưu chuyển xuống cột sống.
b. Thoát dịch não tủy: sau khi đặt ống thông vào não thất, bác sĩ có thể để cho dịch não tủy tự nhiên thoát ra bên ngoài và chảy vào trong một đồ dùng để đo lượng dịch đã thoát ra.
c. Làm cho thương nhân thở nhanh: khi thở nhanh hơn bình thường, lượng CO2 trong máu giảm xuống, và do đó, các động mạch trong sọ teo hẹp lại, làm cho lượng máu trong sọ giảm đi, và nhờ vậy, áp suất trong sọ cũng giảm xuống. Phương pháp này được dùng trong những lúc áp suất lên cao và những biện pháp vừa kể không đủ để làm cho áp suất trở xuống mức cần thiết, và chỉ có thể dùng trong một thời gian ngắn (vì khi lượng máu đến não giảm thì não không nhận đủ lượng máu nuôi dưỡng).
d. Truyền vào tĩnh mạch Mannitol hay Nước có Nồng độ Muối Cao (hypertonic Saline): Một trong hai chất này, khi được truyền nhanh vào tĩnh mạch, có thể rút bớt lượng nước ở trong não bộ giảm và nhờ vậy, áp suất trong não cũng giảm xuống.
e. Cắt một khoảnh lớn xương sọ: trong những trường hợp các biện pháp kể trên không đủ để làm giảm áp suất trong sọ, bác sĩ có thể dùng phẩu thuật để cắt một khoàng lớn trong vòm xương sọ (có thể nguyên cả một bên vòm sọ, hoặc ở cả hai bên vùng trán) để tạo cho não có thêm chồ thoát ra khỏi sự chèn ép do chứng sưng phù tạo nên.
f. Dùng thuốc barbiturate với liều lượng cao: biện pháp cuối cùng khi tất cả mọi phương pháp kể trên không còn hữu hiệu là cho truyền thuốc barbiturate ở liều lượng cao, để mạch máu ở não bộ teo bớt lại và làm giảm đi những nhu cầu biến dưỡng của não. Barbiturate ở liều lượng cao thường khiến cho huyết áp sụt xuống, và vì vậy, bác sĩ cần dùng những thuốc giúp giữ huyết áp ở mức cần thiết.

Tiên liệu:

Nếu não chỉ bị chèn ép thì một khi được giải phẫu và không còn bị chèn ép nữa, các xáo trộn chức năng của não bộ (như tình trạng yếu bắp thịt ở một bên) sẽ thuyên giảm nhanh chóng. Nếu não bị bầm dập thì việc phục hồi có thể mất nhiều thời gian và chức năng có thể không thể phục hồi lại hoàn toàn. Trong những trường hợp tình trạng hôn mê kéo dài trong nhiều ngày, các chức năng của não bộ có thể bị suy kém vĩnh viễn.

Dư chứng: Những ctsn có thể để lại một hay nhiều trong số những dư chứng sau:
• Nhức đầu
• Chóng mặt
• Mờ mắt
• Mất khứu giác
• Kém thính giác, ù tai
• Mất thăng bằng
• Khó chú tâm
• Sa sút trí tuệ:
-giảm trí thông minh
-giảm trí nhớ
• Thay đổi tâm tánh
• Giảm hưng phấn tình dục
• Xáo trộn giấc ngủ
• Dễ mệt mỏi
• Không chịu được ánh sáng chói hay tiếng ồn
• Thường hay bất tỉnh
• Xáo trộn vị giác

Phòng ngừa:
1. Té:
• Tránh nơi trơn trợt, đất lồi lõm.
• Tránh đi nơi thiếu ánh sáng.
• Tránh leo trèo.
2. Tai nạn lưu thông:
a. Khi đi đường: tôn trọng luật lệ đi đường, chỉ băng qua đường ở những nơi được chỉ định và chờ cho đến khi được phép. Khi đi bộ dọc đường ở nơi thiếu ánh sáng, cần cẩn thận hơn, vì người lái xe có thể không trong thấy người đi bộ.
b. Khi lái xe đạp hay xe gắn máy:
1. Tôn trọng luật lưu thông.
2. Đội mũ an toàn.
3. Không chạy quá tốc độ vừa phải, tuỳ tình trạng đường xá.
c. Khi lái xe hơi
• Gắn dây nịch an toàn.
• Không dùng điện thoại di động.
• Không đánh chữ (texting) trên máy điện thoại di động khi lái xe.
• Không đùa giỡn trong xe.
• Chú ý đến việc lái xe.
3. Tai nạn nghề nghiệp
a. Đội nón an toàn.
b. Theo đúng những chỉ dẫn về cách sử dụng máy móc.
c. Không uống rượu hay thuốc gây buồn ngủ khi sử dụng máy móc.
d. Luôn luôn cẩn thận.
4. Tai nạn thể thao: mọi cuộc đấu thể thao đều có ít nhiều nguy cơ gây ctsn khi các đấu thủ va chạm mạnh với nhau, đặc biệt trong các môn Bóng Dẹp (Football và Rugby). Ctsn xảy ra thường xuyên trong các trận đầu Quyền Anh (boxing) vì mục tiêu của trận đấu là đánh trúng vào đầu đối thủ, và trong các trận đấu Đá Bóng Tròn (gọi theo người Hoa Kỳ là soccer), vì người chơi dùng đầu để đón banh. Nếu chơi những môn thể thao kể trên thì khó tránh được ctsn.
5. Bị đánh:
a. tránh ấu đả;
b. tránh gây thù hận;
c. tránh đánh vào đầu để dạy con cháu hay học sinh.
6. Va chạm đầu: cẩn thận khi đi vào nơi thiếu ánh sáng, khi bước vào trong xe hơi, khi đi vào nơi chật hẹp.

Quay về

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: 60 khách

cron